BỆNH CHỐC DA LÀ GÌ? NGUYÊN NHÂN, TRIỆU CHỨNG VÀ CÁCH CHỮA?

23/06/2021 0 Bình luận

 

Chốc là một bệnh nhiễm khuẩn da rất phổ biến, đặc trưng bởi các thương tổn
cơ bản là bọng nước nông, rải rác, nhanh chóng hoá mủ, dập vỡ đóng vảy tiết. Bệnh hay gặp ở trẻ nhỏ. Tuy nhiên, người lớn cũng có thể bị. Bệnh có thể gây các biến chứng tại chỗ và toàn thân nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.



1. Nguyên nhân:

- Do tụ cầu vàng, liên cầu hoặc phối hợp cả hai.
- Yếu tố thuận lợi: tuổi nhỏ, thời tiết nóng ẩm, mùa hè, điều kiện vệ sinh kém
hoặc có bệnh da phối hợp như: chấy rận, ghẻ, côn trùng cắn, viêm da cơ địa.

2. Chẩn đoán:
a) Chẩn đoán xác định
- Lâm sàng
+ Khởi phát là dát đỏ xung huyết, ấn kính hoặc căng da mất màu, kích thước
0,5-1cm đường kính; sau đó bọng nước nhanh chóng phát triển trên dát đỏ.
+ Bọng nước kích thước 0,5-1cm đường kính, nhăn nheo, xung quanh có
quầng đỏ viêm, hoá mủ nhanh sau vài giờ thành bọng mủ.
+ Bọng nước nhanh chóng dập vỡ, đóng vảy tiết màu vàng nâu hoặc nâu nhạt
giống màu mật ong. Nếu cạy vảy sẽ thấy ở dưới là vết trợt nông màu đỏ, bề mặt ẩm
ướt. Ở đầu, vảy tiết làm bết tóc.
+ Khoảng 7-10 ngày sau, vảy tiết bong đi để lại dát hồng, ẩm ướt, nhẵn, ít lâu
sau lành hẳn, không để lại sẹo hoặc chỉ để lại dát tăng sắc tố.
+ Vị trí: tổn thương thường ở vùng da hở có thể ở bất kì chỗ nào trên cơ thể, nhưng hay gặp nhất là: tay, mặt, cổ, chi dưới; đặc biệt chốc ở đầu thường kèm theo chấy.
+ Tổn thương phối hợp khác như: viêm bờ mi, chốc mép hoặc viêm cầu thận
nhất là ở trẻ em nhưng tiên lượng lành tính
+ Triệu chứng toàn thân: thường không sốt, đôi khi có hạch viêm do phản
ứng.
+ Triệu chứng cơ năng: ngứa nhiều hoặc ít

+ Tiến triển: các bọng nước lành sau 1 -2 tuần, nhưng bệnh có thể dai dẳng do
tự lây truyền, vệ sinh kém.
- Cận lâm sàng:
+ Nhuộm Gram dịch hoặc mủ tại tổn thương thấy cầu khuẩn Gram dương xếp
thành chuỗi hoặc từng đám, kèm theo là bạch cầu đa nhân trung tính.
+ Nuôi cấy dịch hoặc mủ xác định chủng gây bệnh và làm kháng sinh đồ giúp
điều trị những trường hợp khó.


b) Chẩn đoán phân biệt
- Nấm da: rất dễ nhầm trong trường hợp chốc không có bọng nước.
+ Tổn thương hình đa cung, có các mụn nước nhỏ và vảy da ở bờ.
+ Ngứa nhiều.
+ Xét nghiệm nấm dương tính.
- Thuỷ đậu
+ Do vi rút Varicella-Zoster gây nên.
+ Lây qua đường hô hấp và tiếp xúc trực tiếp với tổn thương.
+ Gặp ở trẻ trong độ tuổi học cấp 1, cấp 2, có thể gặp ở người lớn.
+ Có yếu tố dịch tễ, hay xảy ra vào mùa đông, xuân.
+ Thời kì lây bệnh: cả trước và sau khi có tổn thương da 4-5 ngày.
+ Thời gian ủ bệnh: 2 tuần.
+ Có triệu chứng viêm long: hắt hơi, sổ mũi, đỏ mắt, sốt nhẹ, mệt, nhức đầu.
+ Tổn thương cơ bản: mụn nước kích thước 1 -3mm, tương đối đồng đều, trên
nền da đỏ, xuất hiện đồng loạt ở mặt, thân mình, sau đó lõm giữa, có thể hoá mủ,
đóng vảy tiết. Người bệnh có thể có ngứa, nhất là ở trẻ nhỏ. Tổn thương lành sau 1
tuần đến 10 ngày, không để lại sẹo trừ khi có bội nhiễm.
- Herpes simplex

+ Bệnh hay gặp, do Herpes simplex vi rút (HSV) gây ra.
+ Tổn thương là các mụn nước nhỏ chứa dịch trong, xếp thành chùm, khi vỡ
tạo vết trợt nông, hình đa cung, đau rát. Vị trí hay gặp ở vùng bán niêm mạc như
môi (thường do HSV-1), sinh dục (thường do HSV-2).
- Hội chứng bong vảy da do tụ cầu (Staphylococcal Scalded Skin Syndrome)
+ Xảy ra chủ yếu ở trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ. Trước đây được gọi là bệnh Ritter (đỏ
da bong vảy ở trẻ sơ sinh).

3. Điều trị:
a) Nguyên tắc

- Kết hợp thuốc điều trị tại chỗ và toàn thân.
- Chống ngứa: tránh tự lây truyền.
- Điều trị biến chứng nếu có.
b) Điều trị cụ thể
- Tại chỗ:
+ Ngâm tắm ngày một lần bằng nước thuốc tím loãng 1/10.000 hoặc các dung
dịch sát khuẩn khác.
+ Bọng nước, bọng mủ: chấm dung dịch màu vào buổi sáng (milian,
castellani, dung dịch eosin 2%...)
+ Trường hợp nhiều vảy tiết: đắp nước muối sinh lý 9‰, nước thuốc tím
1/10.000 hoặc dung dịch Jarish lên tổn thương, đắp liên tục đến khi bong hết vảy,
hoặc bôi mỡ kháng sinh như mỡ mupirocin hoặc kem axít fucidic,
erythromycin…ngày hai đến ba lần.
- Toàn thân: chỉ định khi tổn thương nhiều, lan tỏa

4. Phòng bệnh:
- Chú ý phòng bệnh cho trẻ nhỏ, nhất là sau khi mắc bệnh do vi rút nhƣ sởi.
- Tắm rửa vệ sinh ngoài da, cắt tóc, cắt móng tay.
- Tránh ở lâu những nơi ẩm thấp, thiếu ánh sáng.
- Điều trị sớm và tích cực, tránh chà xát, gãi nhiều gây biến chứng.
- Xét nghiệm nước tiểu cho bệnh nhi vào tuần thứ 3 sau khi khởi phát bệnh để
phát hiện biến chứng viêm cầu thận cấp.
- Tránh côn trùng đốt.
Trở lại trang Y HỌC GIA ĐÌNH

Tags :

Sức khỏe Tin tức

BÌNH LUẬN:
popup

Số lượng:

Tổng tiền: